Tiếng Việt English
    Hội nghị Chuyên để "Chính phủ kiến tạo - Nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh mới và Đối thoại doanh nghiệp lần 2 năm 2016"
Quản lý đầu tư »» Quản lý đầu tư
Trả lời ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp, nhà đầu tư 2015
Trả lời ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp, nhà đầu tư 2015
02-12-2015

Như tin đã đưa, ngày 03/10/2015 UBND tỉnh Điện Biên đã tổ chức Hội nghị gặp mặt các doanh nghiệp các nhà đầu tư đang thực hiện đầu tư, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tuy nhiên, do thời gian có hạn, Hội nghị đã không trả lời hết được những câu hỏi, kiến nghị của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Sau Hội nghị, UBND tỉnh đã có  công văn số 3626/UBND-GT ngày 16/10/2015 của UBND tỉnh Điện Biên, yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục trả lời các kiến nghị của doanh nghiệp, nhà đầu. Sau đây là tổng hợp ý kiến của các cơ quan đơn vị trả lời các doanh nghiệp các nhà đầu tư tại Hội nghị Gặp mặt giữa Lãnh đạo UBND tỉnh với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư.

 


I. Kiến nghị của Hội Doanh nghiệp trẻ tỉnh Điện Biên về  thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn với lãi suất hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các doanh nghiêp, nhất là doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động, các doanh nghiệp sản xuất, xây dựng được tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng để có thể từng bước phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động... Thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm.

Trả lời:

 1. Về  thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn: Trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay có 3 NHTM nhà nước (NHTMCP Đầu tư và phát triển, NHNo&PTNT tỉnh, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Điện biên) và ngân hàng chính sách xã hội tỉnh cùng tham gia cho vay các doanh nghiệp. Các Ngân hàng trên đã chủ động phối hợp với các cấp, các ngành, chính quyền địa phương tạo điều kiện cho khách hàng được tiếp cận, vay vốn trên cơ sở phân tích đánh giá những thế mạnh, tiềm năng phát triển kinh tế của địa phương để có những giải pháp mở rộng, nâng cao chất lượng tín dụng trên địa bàn. Xem xét điều chỉnh lại cơ cấu thời gian trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, xem xét miễn, giảm lãi vốn vay, đồng thời tiếp tục xem xét cho vay mới giúp khách hàng khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất kinh doanh. Ưu tiên tập trung vốn hỗ trợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, các dự án có hiệu quả.

a) Về lãi xuất cho vay: Các NHTM đã thực hiện nghiêm túc Thông tư số 08/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn bằng ĐVN của TCTD đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế. Đến 30/9/2015 các Ngân hàng trên địa bàn cho vay các doanh nghiệp với mức lãi suất:

- Cho vay ngắn hạn từ 4,5% - 10,5%/năm

- Cho vay trung và dài hạn từ 8,5% - 12%/năm.

b) Triển khai thực hiện các Chương trình:

- Chương trình kết nối Ngân hàng: Chi nhánh Ngân hàng NN tỉnh đã chỉ đạo các NHTM trên địa bàn triển khai Chương trình với cá hình thức "Ký kết hỗ trợ vốn vay, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp". Thông qua Chương trình các NHTM đã thực hiện cho vay mới được 2.387 tỷ đồng, cơ cấu lại nợ 595 tỷ đồng với tổng số khách hàng được tiếp cận vốn vay từ Chương trình là: 1857 người.

- Chương trình bình ổn thị trường: Chi nhánh NHNN đã chỉ đạo các NHTM căn cứ danh sách các doanh nghiệp đã được UBND tỉnh phê duyệt tham gia Chương trình bình ổn giá trên địa bàn tỉnh Điện Biên và các đơn vị ngoài Chương trình nhưng có tham gia chuỗi cung ứng hàng hóa gắn kết với doanh nghiệp bình ổn thị trường, kiểm tra xem xét cơ chế hỗ trợ tín dụng với lãi suất phù hợp (lãi suất cho vay ngắn hạn từ 5 - 6%/năm). Gắn Chương trình bình ổn giá với Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp. Đến nay Sở Công thương chưa cung cấp danh sách các doanh nghiệp đã được UBND tỉnh phê duyệt tham gia Chương trình làm căn cứ để các NHTM xem xét hỗ trợ tín dụng, lãi suất phù hợp cho các doanh nghiệp.

- Chương trình thí điểm trong sản xuất nông nghiệp: Chi nhánh NHNN đã chỉ đạo các TCTD tập trung ưu tiên vốn vay cho các doanh nghiệp, hộ gia đình để sản xuất kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; tăng cường mở rộng mạng lưới hoạt động ở các vùng nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn để tạo điều kiện cho các hộ dân tiếp cận vốn vay để sản xuất - kinh doanh; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội tại địa bàn để thực hiện cho vay, giám sát quá trình vay vốn của khách hàng, sử dụng đầu tư có hiệu quả.

2. Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian tới:

- Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng đi đôi với mở rộng tín dụng theo hướng tập trung ưu tiên vốn vay cho sản xuất kinh doanh, khu vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, các dự án có hiệu quả, giảm nợ xấu của Ngân hàng. Tiếp tục triển khai Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, Chương trình bình ổn thị trường, Chương trình thí điểm trong sản xuất nông nghiệp để hỗ trợ vốn vay, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

- Tiếp tục điều chỉnh cơ cấu dư nợ theo ngành, thành phần kinh tế, chuyển dịch cơ cấu khách hàng tiền vay theo hướng tăng tỷ trọng cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

- Các NHTM tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, HTX, hộ sản xuất nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đầy sản xuất kinh doanh.

- Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các Sở, ngành liên quan xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc đến các hoạt động của công tác Ngân hàng.

- Các Ngân hàng tiếp tục với các doanh nghiệp rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, cơ cấu lại thời hạn trả nợ để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng, phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của các dự án và khả năng trả nợ của các khách hàng, hạn chế nợ xấu phát sinh.

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính; đẩy mạnh hoạt động ứng dụng CNTT trong quản lý nghiệp vụ Ngân hàng; nâng cao Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008.

II. Kiến nghị của Hiệp hội cà phê Mường Ảng về chính sách hỗ trợ phát triển cây cà phê; kiến nghị ban hành chính sách hỗ trợ cước vận chuyển cho những doanh nghiệp thu mua cà phê và trợ giá cho người dân trồng cà phê khi giá xuống thấp tối thiểu bằng giá sản xuất; chính sách thu mua cà phê bằng chi phí sản xuất…. tránh tình trạng ngườì dân không tổ chức thu hái cà phê gây lãng phí; về chính sách thu hút để kêu gọi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư sớm xây dựng nhà máy chế biến cà phê xuất khẩu, xây lò sấy và kho chứa và các cơ sở chế biến cà phê thành phẩm trên địa bàn huyện Mường Ảng; chính sách hỗ trợ đầu tư ngoài hàng rào, miễn, giảm tiền thuê đất, hỗ trợ một phần tiến xây dựng, máy móc trang thiết bị và cho vay vốn dài hạn để thu hút các doanh nghiệp đầu tư; quảng bá, giới thiệu sản phẩm cà phê Mường Ảng đến bạn bè trong nước và quốc tế để từ đó khẳng định thương hiệu cà phê Mường Ảng.

Trả lời:

1. Về các chính sách hỗ trợ phát triển cây cà phê; kiến nghị ban hành chính sách hỗ trợ cước vận chuyển cho những doanh nghiệp thu mua cà phê và trợ giá cho người dân trồng cà phê khi giá xuống thấp tối thiểu bằng giá sản xuất; chính sách thu mua cà phê bằng chi phí sản xuất…. tránh tình trạng ngườì dân không tổ chức thu hái cà phê gây lãng phí.

Cây cà phê là một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh, luôn được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ phát triển. Những năm qua UBND tỉnh đã ban hành các chính sách để hỗ phát triển cà phê (quy định tại Quyết định số 02/2014/QĐ-UBND ngày 13/3/2014) với các chính sách như: Hỗ trợ nhân dân chuyển đổi đất sang trồng cà phê; hỗ trợ 50% giá cây giống khi trồng mới; đối với các huyện nghèo thuộc chương trình 30a được hỗ trợ tiền mua giống, phân bón khi chuyển đổi sang trồng cà phê, hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm nông, lâm, thủy sản của địa phương. Thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, UBND tỉnh đã giao cho Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát các chính sách hiện hành, tham mưu giúp UBND tỉnh điều chỉnh bổ sung, ban hành các chính sách phù hợp với định hướng phát triển các sản phẩm hàng hóa của tỉnh. Các chính sách tập trung vào phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng liên kết sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, quảng bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh của sản phẩm, tạo môi trường cạnh tranh, bình đẳng giữa các nhà đầu tư, phù hợp với các cam kết quốc tế, hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia, từng bước hội nhập sâu, rộng kinh tế quốc tế.

Mặc dù là tỉnh khó khăn, thu ngân sách trên địa bàn còn hết sức hạn hẹp, hàng năm ngoài hỗ trợ các mặt hàng thiết yếu cho người dân, tỉnh đã bố trí trên 20 tỷ đồng để thực hiện chính sách hỗ trợ sản suất nông nghiệp, trong đó có cây cà phê. Việc  kiến nghị ban hành chính sách hỗ trợ cước vận chuyển cho những doanh nghiệp thu mua cà phê và trợ giá cho người dân trồng cà phê khi giá xuống thấp tối thiểu bằng giá sản xuất, chính sách thu mua cà phê bằng chi phí sản xuất thể hiện sự quan tâm của hiệp hội cà phê. Tuy nhiên, vượt quá khả năng cân đối ngân sách của địa phương và không phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước cũng như cam kết quốc tế, hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia.

Để Tiếp đó, để "mở cửa" thông thoáng hơn trong thu hút các nguồn lực, tạo đột phá thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Chính phủ đã ban hành Nghị định 210/2013/NÐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Nghị định 210/2013/NÐ-CP có nhiều điểm mới so với Nghị định 61/2010/NÐ-CP là một bước chuyển biến tích cực, là cơ sở kỳ vọng việc thu hút doanh nghiệp góp phần tăng nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn; phát triển thị trường tiêu thụ nông sản; thúc đẩy công nghệ sản xuất và chế biến nông sản; đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và liên kết giữa các thành phần kinh tế ở nông thôn.

Theo <span style="font-size:14.0pt;font-family:&quot;sans-serif" ","serif";="" mso-bidi-font-family:tahoma'="">Nghị định 210/2013/NÐ-CP, nhà đầu tư có dự án chế biến, bảo quản cà phê trên địa bàn tỉnh Điện Biên – Dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư được ưu đãi về đất đai và được hỗ trợ đầu tư, cụ thể:

 - Ưu đãi về đất đai:

+ Được miễn tiền sử dụng đất đối với dự án đầu tư (nếu được Nhà nước giao đất) hoặc được miễn tiền thuê đất (khi thuê đất của Nhà nước) kể từ ngày dự án hoàn thành đi vào hoạt động; được miễn tiền thuê đất đối với diện tích đất xây dựng nhà ở cho công nhân, đất trồng cây xanh và đất phục vụ phúc lợi công cộng.

+ Được Nhà nước hỗ trợ 20% tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định 210/2013/NĐ-CP cho 5 năm đầu tiên kể từ khi hoàn thành xây dựng cơ bản (nếu thuê đất của hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án đầu tư).

+ Được miễn, giảm tiền sử dụng đất khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo Điều 8 Nghị định 210/2013/NĐ-CP.

- Về hỗ trợ đầu tư:

+ Được hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường và áp dụng khoa học công nghệ theo quy định tại Điều 9 Nghị định 210/2013/NĐ-CP.

+ Nhà đầu tư có dự án đầu tư cơ sở chế biến cà phê theo phương pháp ướt đảm bảo các điều kiện theo quy định (Đạt tối thiểu 5.000 tấn sản phẩm/năm; dự án nằm trong quy hoạch được duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chấp thuận cho phép đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nếu chưa có quy hoạch được duyệt; bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường; sử dụng tối thiểu 30% lao động và 60% nguyên liệu cà phê tại địa phương) được ngân sách nhà nước hỗ trợ: 3 tỷ đồng/dự án chế biến cà phê theo phương pháp ướt để xây dựng cơ sở hạ tầng về giao thông, điện, nước, nhà xưởng, xử lý chất thải và mua thiết bị.

- Ngoài ưu đãi về đất đai, về hỗ trợ đầu tư nêu trên, nhà đầu tư có dự án chế biến cà phê  liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản thuộc các dự án cánh đồng lớn theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo Nghị quyết số 383/2015/NQ-HĐND ngày 10/11/2015 của HĐND tỉnh Điện Biên.

3. Về quảng bá, giới thiệu sản phẩm cà phê Mường Ảng đến bạn bè trong nước và quốc tế để từ đó khẳng định thương hiệu cà phê Mường Ảng:

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, trong những năm qua Sở Công Thương đã chỉ đạo Trung tâm Xúc tiến Thương mại quan tâm đẩy mạnh giới thiệu, quảng bá sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp trong tỉnh nói chung và sản phẩm cà phê Mường Ảng nói riêng tới các doanh nghiệp, người tiêu dùng trong nước và quốc tế thông qua các hoạt động XTTM

- Xây dưng gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm hàng hóa của Tỉnh, tại số 821, đường Võ Nguyên Giáp, thành phố Điện Biện Phủ

- Thông qua các chương trình hội nghị, Hội thảo lớn và Hội chợ triển lãm thương mại trong và ngoài nước nhằm giúp doanh nghiệp tuyên truyền, quảng bá về hình ảnh và chất lượng cà phê Mường Ảng

- Tiến hành sử dụng sản phẩm cà phê Mường Ảng làm quà tặng trong các hoạt động XTTM tại Lào, Thái Lan, Trung Quốc

Trong thời gian tới Sở Công Thương tiếp tục chỉ đạo Trung tâm XTTM quan tâm, đẩy mạnh việc giới thiệu, quảng bá sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp trong tỉnh nói chung và sản phẩm cà phê Mường Ảng nói riêng tới các doanh nghiêp, người tiêu dùng trong nước và quốc tế thông qua các hoạt động XTTM.

Đề nghị Hiệp hội cà phê Mường Ảng chủ động xây dựng và tổ chức quảng bá sản phẩm của các doanh nghiệp trong Hiệp hội.

III. Kiến nghị của Công ty Cổ phần đầu tư Tài nguyên và Năng lượng Điện Biên về chủ trương khảo sát và đầu tư thủy điện Púng Pon xã Pa Thơm, bậc sau của thủy điện Nậm Núa.

Trả lời:

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khảo sát lập dự án đầu tư, tỉnh Điện Biên đã công bố quy hoạch và tiếp tục rà soát, cặp nhật bổ sung quy hoạch phát triển thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Điện Biên, đồng thời cung cấp cho các nhà đầu tư trên trang  website của Sở Kế hoạch và Đầu tư tại địa chỉ www.dienbiendpi.gov.vn. Hiện nay, đã có một số công trình thủy điện vừa và nhỏ được đầu tư xây dựng, song nhiều công trình chưa được đầu tư, trong đó có một số công trình chưa được khảo sát, đánh giá cụ thể.

Đề nghị Công ty Cổ phần đầu tư Tài nguyên và  Năng lượng Điện Biên lập tờ trình về việc xin chủ trương khảo sát, lập dự án đầu tư xây dựng công trình thủy điện Púng Pon, xã Pa Thơm và gửi kèm theo hồ sơ  báo cáo khái toán đánh giá tính khả thi và kinh nghiệm thực hiện sản xuất, kinh doanh, đầu tư và thi công các công trình  của đơn vị gửi các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng và Công Thương để nghiên cứu, xem xét và tham mưu với UBND tỉnh về chủ trương nghiên cứu khảo sát, lập dự án đầu tư xây dựng công trình thủy điện Phúng Pon, xã Pa Thơm và lập hồ sơ báo cáo UBND tỉnh, Bộ Công Thương bổ sung quy hoạch thủy điện trên.

IV. Kiến nghị của Công ty TNHH Tư vấn và Xây dựng An Toàn Phát về công khai các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, thị xã, thành phố) trên các phương tiện thông tin chính thống của địa phương, kể cả trên trang website của địa phương để mọi người có thể tham khảo,tra cứu; cần kịp thời ban hành các quy định tạm thời thực hiện hoặc hướng dẫn trong thời gian thay đổi các Luật liên quan đến xây dựng cơ bản, đầu tư khi chưa có Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các Bộ, ngành Trung ương.Đề nghị cần phải có sự phối hợp giữa các ngành trong việc quy hoạch, phát triển công nghiếp sản xuất – Khai thác – Chế biến vật liệu xây dựng, trong đó có Gạch – Cát – Đa; công tác quản lý khai thác vật liệu xây dựng (hiện tại trên địa bàn có tình trạng khai thác đá chui, giá bán vật liệu xây dựng cao gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư). Về tính lãi, tính tiền phạt đối với các khoản thuế doanh nghiệp nộp chậm, nhưng không trả lãi tiền chậm hoàn thuế GTGT cho doang nghiệp. Về những kế hoạch để cải thiện vị trí xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay.

Trả lời:

 1. Về công khai  kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Mở rộng và phát huy dân chủ là xu hướng khách quan của tiến bộ xã hội, nhất là hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, mở rộng và nâng cao dân chủ sẽ góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ mới, ngay từ Văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định chủ trương “Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thật sự là công bộc của nhân dân. Xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước đối với nhân dân”“Phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển nước ta”.

Năm 2007,  Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI đã thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, trong đó tại Chương II của Pháp lệnh có 5 điều (từ Điều 5 đến Điều 9) quy định cụ thể về những nội dung công khai để dân biết gồm: những nội dung công khai; hình thức công khai; việc công khai bằng hình thức niêm yết; việc công khai trên hệ thống truyền thanh và thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân; trách nhiệm tổ chức thực hiện các nội dung công khai, cụ thể như sau:

- Pháp lệnh quy định 11 nội dung chính quyền cấp xã phải công khai cho nhân dân biết, đây là những nội dung liên quan trực tiếp đến người dân, gắn liền với quyền và lợi ích của nhân dân, được nhân dân quan tâm, bao gồm những nhóm nội dung chính sau:

+ Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phư­­ơng án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã;

+ Các dự án, công trình đầu t­ư, phư­ơng án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư­ liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phư­ơng án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư­ trên địa bàn cấp xã;

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân;

+ Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu t­ư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp;

+ Chủ tr­­ương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phư­ơng thức và kết quả bình xét hộ nghèo đư­­ợc vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình th­ương, cấp thẻ bảo hiểm y tế;

+ Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã;

+ Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã;

+ Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đ­ưa ra lấy ý kiến nhân dân;

+ Đối tư­­ợng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu;

+ Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện;

+ Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà n­ước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.

- Pháp lệnh quy định rõ các hình thức công khai gồm: Niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã; công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã; công khai thông qua Tr­ưởng thôn, Tổ tr­ưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân.

Ngoài ra, nhằm tạo ra nhiều kênh thông tin để nhân dân nắm bắt rõ hơn việc công khai, Pháp lệnh còn quy định chính quyền cấp xã có thể áp dụng đồng thời nhiều hình thức công khai cho cùng một nội dung; thực hiện việc cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 32 của Luật phòng, chống tham nhũng.

Đối với những nội dung được nhân dân quan tâm nhất, liên quan trực tiếp nhất đến quyền lợi của nhân dân thì Pháp lệnh còn quy định bắt buộc phải được công khai bằng hình thức niêm yết tại trụ sở Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã trong thời gian chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày văn bản được thông qua, ký ban hành đối với những việc thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền cấp xã hoặc kể từ ngày nhận đ­ược văn bản đối với những việc thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan nhà n­ước cấp trên, bao gồm:  Các dự án, công trình đầu t­ư, phư­ơng án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư­ liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư­ trên địa bàn cấp xã; Đối tư­­ợng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu. Đối với các nội dung này, thời gian niêm yết là 30 ngày liên tục kể từ ngày niêm yết. Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân; Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện. Đối với các nội dung này, thời gian niêm  là phải thư­ờng xuyên, liên tục.

- Trách nhiệm tổ chức thực hiện các nội dung công khai

+ Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lập, thông qua kế hoạch thực hiện những nội dung công khai, trong đó nêu rõ cách thức triển khai thực hiện, thời gian thực hiện và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch, phương án đã được thông qua.

+ Uỷ ban nhân dân cấp xã báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về quá trình và kết quả thực hiện các nội dung công khai tại kỳ họp gần nhất của Hội đồng nhân dân.

Như vậy, đề nghị của doanh nghiệp đã được công khai tại nơi doanh nghiệp đóng trụ sở. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, tại nơi doanh nghiệp đóng trụ sở, chính quyền địa phương chưa niêm yết hoặc chưa niêm yết kịp thời cần nghiêm túc rút kinh nghiêm.

Với trách nhiêm là cơ quan tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, Sở Kế hoạch và Đầu tư xin được gửi tới Công ty TNHH Tư vấn và Xây dựng An Toàn Phát và cộng đồng các doanh nghiệp tỉnh nhà: Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016-2020 của tỉnh Điên Biên như sau:

1. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu 5 năm 2015-2020

1.1. Phương hướng chung, mục tiêu tổng quát :

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Xây dựng chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh. Tập trung phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở tiềm năng, lợi thế; thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với chế biến. Chú trọng phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch và ngành, lĩnh vực có thế mạnh. Tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; xây dựng nông thôn mới. Tạo chuyển biến rõ nét, toàn diện về văn hoá - xã hội. Tập trung giảm nghèo nhanh và bền vững; đảm bảo an sinh xã hội. Gắn phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng - an ninh. Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của MTTQ, các đoàn thể quần chúng. Giữ vững ổn định chính trị; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân cao hơn, bền vững hơn giai đoạn 2010-2015. Phát huy truyền thống lịch sử Điện Biên Phủ, sức mạnh đoàn kết các dân tộc và những thành quả đã đạt được; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; tập trung phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; bảo đảm quốc phòng - an ninh, phấn đấu xây dựng Điện Biên thành tỉnh phát triển trung bình trong vùng trung du và miền núi phía Bắc.

1.2. Mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020 :

(1) Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân 6,8%/năm; Thu nhập bình quân đầu người đạt 38-40 triệu VNĐ (tương đương 1.800-2.000 USD).

(2) Cơ cấu kinh tế : khu vực nông, lâm nghiệp 22,53%, công nghiệp - xây dựng 26,86%, dịch vụ 50,61%.

(3) Tổng sản lượng lương thực đạt 260 ngàn tấn; tỷ lệ che phủ rừng 45%.

(4) Giá trị sản xuất công nghiệp 5.042 tỷ đồng, gấp 2 lần so với năm 2015.

(5) Tổng thu ngân sách địa phương 12.000 tỷ đồng (thu trên địa bàn 1.200 tỷ).

(6) Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 100 triệu USD (xuất khẩu 55 triệu USD).

(7) Tốc độ tăng dân số hằng năm 1,63%.

(8) Mỗi năm đào tạo nghề 7.800-8.200 lao động; tạo việc làm mới cho trên 8.500 lao động/năm.

(9) Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 28,01% năm 2015 xuống còn 14,36% năm 2020.

(10) Có trên 60% trường đạt chuẩn Quốc gia; phấn đấu thành lập trường Đại học Điện Biên.

(11) Phấn đấu 80% số xã, phường, thị trấn đạt Tiêu chí Quốc gia về y tế xã.

(12) Hằng năm, có 70% hộ gia đình; 55% thôn, bản, tổ dân phố; trên 90% cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hoá. 100% số huyện có nhà văn hóa - thể thao; 60% số xã có nhà văn hóa; 25% số thôn, bản, tổ dân phố có nhà sinh hoạt cộng đồng.

(13) Phấn đấu hoàn thành việc đầu tư nâng cấp hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ và Cảng hàng không theo quy hoạch; 100% đường huyện và 50% đường cấp xã được cứng hóa; 100% số xã có điện lưới Quốc gia; 100% số hộ xem được truyền hình TW và truyền hình tỉnh; 50% số xã có Đài truyền thanh không dây.

(14) Năm 2020, đón 870 ngàn lượt du khách; doanh thu dịch vụ du lịch 1.500 tỷ đồng, gấp 3,0 lần so với năm 2015.

(15) Cơ bản hoàn thành xây dựng hạ tầng các trung tâm huyện lỵ mới, khu cửa khẩu Huổi Puốc, A Pa Chải và hạ tầng kinh tế - xã hội khu trung tâm hành chính mới của tỉnh. Đến năm 2020 : thành phố Điện Biên Phủ đạt tiêu chuẩn đô thị loại II; 30% số xã cơ bản đạt các tiêu chí nông thôn mới (15-19 tiêu chí).

(16) Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

(17) Hằng năm, có 45-50% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh; kết nạp 2.000 đảng viên; giảm 15-20%/ năm số thôn, bản chưa có đảng viên, chưa có chi bộ.

(18) 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý từ trưởng, phó phòng trở lên, có trình độ từ đại học trở lên và được đào tạo lý luận chính trị, bồi dưỡng về quản lý nhà nước. Cán bộ công chức cấp xã : 60% có trình độ trung học phổ thông; 65% có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên; 100% được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.

1.3. Nhiệm vụ cụ thể

(1) Phát triển kinh tế :

- Phát triển toàn diện nông nghiệp, đi đôi với thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh. Chú trọng tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng; áp dụng công nghệ, khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gắn với chế biến và phát triển thị trường. Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản; quản lý, kiểm soát chặt chẽ chất lượng giống cây, con; tăng cường phòng, chống dịch bệnh. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển trồng rừng kinh tế và cây công nghiệp theo quy hoạch (cà phê, cao su, chè...). Nghiên cứu, khảo nghiệm về phát triển cây mắc ca trong tỉnh.

Phát huy tính chủ động sáng tạo của cấp ủy, chính quyền, MTTQ, đoàn thể các cấp và nhân dân trong thực hiện "Chương trình xây dựng nông thôn mới"; tập trung ưu tiên thực hiện các tiêu chí phù hợp với điều kiện, khả năng của từng xã.                      

 - Thu hút đầu tư phát triển công nghiệp theo quy hoạch; tạo điều kiện sản xuất điện năng, vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm sản. Khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến, gắn với phát triển vùng nguyên liệu. Duy trì, khôi phục nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống.

Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, theo qui hoạch, chương trình, dự án. Huy động các nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, dự án thủy điện, xây dựng nhà máy cấp nước. Ưu tiên vốn khởi công những công trình, dự án thực sự cấp thiết, có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

- Tăng cường điều tra, qui hoạch rõ về tài nguyên, khoáng sản và quản lý, khai thác có hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái. Cơ bản hoàn thành dự án lập hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai. Triển khai thực hiện kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2025.

- Mở rộng mạng lưới kinh doanh, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường. Từng bước hoàn thiện hạ tầng và mở rộng, phát triển thương mại, các loại hình dịch vụ. Thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế về du lịch, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển kinh tế cửa khẩu, nâng cấp cửa khẩu A Pa Chải; gắn công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ với phát triển kinh tế cửa khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu, trọng tâm là nông, lâm sản chế biến, vật liệu xây dựng và các mặt hàng khác của địa phương.

- Huy động, quản lý, khai thác tốt các nguồn thu, tăng khả năng cân đối phục vụ nhiệm vụ chi thường xuyên và đầu tư phát triển; phấn đấu tăng thu đạt 11,3%/năm. Phân bổ và điều hành ngân sách linh hoạt, đúng luật; gắn với phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm.

- Khuyến khích tạo môi trường thuận lợi và bình đẳng phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm theo qui hoạch, kế hoạch; tập trung đầu tư và tạo động lực phát triển các vùng kinh tế.

(2) Văn hóa - xã hội :

- Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Phát triển, củng cố mạng lưới trường, lớp học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu. Nâng cao hiệu quả liên kết đào tạo tại các trường chuyên nghiệp, đảm bảo chất lượng và phù hợp với yêu cầu phát triển. Đẩy mạnh xã hội hóa và các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

- Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến, phù hợp và ưu tiên các đề tài, dự án trực tiếp phát triển sản xuất và bảo quản nông, lâm, thuỷ sản; dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của tổ chức - doanh nghiệp đến năm 2020”.

- Hoàn thiện hệ thống y tế từ tuyến tỉnh đến cơ sở. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Tăng cường quản lý nhà nước về y tế. Thực hiện có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế.

- Phát triển văn hóa, đi đôi với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, lịch sử; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Định hướng tuyên truyền, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới nội dung, chương trình, nâng cao chất lượng hoạt động các loại hình báo chí. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.

- Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề, gắn với giải quyết việc làm. Đẩy mạnh thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh, bền vững đến năm 2020 (Nghị quyết 04-NQ/TU). Đảm bảo an sinh xã hội, chính sách đối với người có công; các hoạt động từ thiện, nhân đạo; đền ơn đáp nghĩa; bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

- Thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo. Quản lý chặt chẽ hoạt động tôn giáo theo qui định của pháp luật và vận dụng phù hợp với thực tế.

(3) Thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Bảo đảm quốc phòng - an ninh trong mọi tình huống. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp. Giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.  

Đẩy mạnh quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện với các tỉnh Bắc Lào. Duy trì quan hệ hợp tác với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Mở rộng quan hệ với các tỉnh Đông bắc Thái Lan, các nước trong khu vực và các tổ chức quốc tế.

(4) Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị :

- Nâng cao chất lượng chính trị, tư tưởng; chất lượng xây dựng, cụ thể hóa, triển khai thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Chủ động nắm tình hình, phân tích, đánh giá, dự báo, định hướng, cung cấp thông tin và tham mưu giải quyết các vấn đề tư tưởng phát sinh từ cơ sở; kịp thời giải quyết những nhu cầu bức thiết, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tăng cường định hướng tư tưởng, chính trị, quản lý hoạt động báo chí, văn hóa, văn học - nghệ thuật theo tôn chỉ, mục đích, quy định của pháp luật. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục lý luận chính trị. Xây dựng đội ngũ báo cáo viên các cấp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

- Rà soát, củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Thực hiện đồng bộ các khâu và tập trung đổi mới, tạo bước đột phá trong công tác cán bộ. Tập trung lãnh đạo bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2016-2021. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU, ngày 03-7-2012 của Tỉnh ủy khóa XII về nâng cao chất lượng hoạt động của chi bộ Đảng. Thực hiện nghiêm bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý đối với cán bộ, đảng viên.

- Tăng cường lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát toàn khóa, hằng năm của cấp ủy, của Ủy ban kiểm tra các cấp. Tập trung kiểm tra, giám sát thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Chú trọng kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; tăng cường giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề; việc thực hiện các kết luận kiểm tra, thông báo kết quả giám sát. Giải quyết kịp thời, đúng quy định các đơn thư tố cáo, khiếu nại kỷ luật Đảng.

- Thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng trong tình hình mới. Chủ động nắm tình hình, thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt pháp lệnh, quy chế dân chủ ở cơ sở. Chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, người có uy tín, trong tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội. Thực hiện có hiệu quả tham gia giám sát và phản biện xã hội.

- Tập trung xây dựng, thực hiện tốt chương trình, kế hoạch về công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng; về cải cách tư pháp và thanh tra, tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả thiết thực Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị, về đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn với kiểm tra, đôn đốc trong tổ chức thực hiện; sơ, tổng kết và nhân rộng các điển hình của tập thể, cá nhân tiêu biểu.

- Rà soát việc xây dựng và thực hiện kế hoạch sửa chữa, khắc phục những hạn chế, yếu kém của tập thể, cá nhân; thực hiện các nhóm giải pháp đã nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng; tăng cường kiểm tra, đôn đốc trong tổ chức thực hiện; xử lý nghiêm tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

- Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng; trọng tâm là : thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết; các quy chế phối hợp; tăng cường kiểm tra, giám sát và lắng nghe, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

- Tập trung lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với tổ chức và hoạt động của chính quyền các cấp. Lãnh đạo hội đồng nhân dân các cấp phát huy vai trò trong thực hiện chức năng quyết định và giám sát theo quy định của pháp luật. Lãnh đạo ủy ban nhân dân các cấp trong việc đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành; nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh cải cách hành chính; hiệu lực hoạt động của tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện các chương trình, dự án; bảo đảm quốc phòng, an ninh và tăng cường hoạt động đối ngoại.

- Nâng cao chất lượng hoạt động của MTTQ, các đoàn thể, hội quần chúng; đổi mới phương thức hoạt động và biện pháp tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; đẩy mạnh các phong trào thi đua, các cuộc vận động, hướng các hoạt động về cơ sở. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 102-KL/TW, ngày 22-9-2014 của Bộ Chính trị về hội quần chúng.

1.4. Các giải pháp chủ yếu :

(1) Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, đảm bảo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc, tạo sự thống nhất về tư tưởng, hành động và sự đồng thuận trong xã hội, nhằm đưa Nghị quyết đại hội vào cuộc sống.

(2) Triển khai cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh, Kết luận số 85-KL/TW, ngày 24-01-2014 của Bộ Chính trị và các nghị quyết, chỉ thị... của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XII, thành các chương trình, kế hoạch phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, địa phương để tổ chức triển khai thực hiện.

(3) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trong đó xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm và thực hiện đồng bộ các giải pháp. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh (PCI), hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI); bố trí và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, đề cao trách nhiệm cá nhân, đặc biệt những người đứng đầu. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Chủ động đề xuất áp dụng một số cơ chế, chính sách riêng, đặc thù tại địa phương.

(4) Tập trung chỉ đạo thực hiện các mục tiêu phát triển văn hóa - xã hội; ưu tiên thực hiện có hiệu quả xoá đói giảm nghèo bền vững. Có giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho lao động, xuất khẩu lao động; xây dựng nông thôn mới; thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

(5) Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật; phát huy vai trò tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, nhất là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; tranh thủ giúp đỡ của Trung ương; phối hợp tốt với các ban, bộ, ngành Trung ương, các tỉnh, thành phố, để tạo nguồn lực phát triển tỉnh.

(6) Tăng cường kiểm tra, giám sát trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ. Thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Phát hiện, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc mới nảy sinh; uốn nắn những lệch lạc, trì trệ, xử lý nghiêm những vi phạm.

(7) Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, đảng viên. Phát huy hiệu quả, hiệu lực hoạt động của cấp ủy, chính quyền các cấp; chất lượng hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp trong thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội.

(8) Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời có những phương án, giải pháp giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện với các tỉnh Bắc Lào, duy trì quan hệ với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước và các tổ chức quốc tế.

(9) Phát động phong trào thi đua liên tục và rộng khắp. Chú trọng đổi mới nội dung, phương thức phát động và tổ chức triển khai các phong trào thi đua yêu nước phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua.

 (Hiện tại, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 và một số năm trước đã được chuyển tại lên công thông tin Điện tử của UBND tỉnh. http://dienbien.gov.vn/. Thời gian tới, Sở Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục chú trọng tham mưa cho UBND tỉnh kịp thời truyền tải các thông tin về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Kế hoạch đầu tư công một cách sâu rộng đến các tổ chức kinh tế, chính trị, chính trị xã hội, doanh nghiệp và người dân, chú trọng việc đăng tải trên trang Website của Sở để thuận tiện cho việc tìm hiểu, tra cứu thông tin).

2. Về quy định tạm thời thực hiện hoặc hướng dẫn trong thời gian thay đổi các Luật liên quan đến xây dựng cơ bản, đầu tư khi chưa có Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các Bộ, ngành Trung ương.

Rất cám ơn sự thông cảm và chia xẻ của doanh nghiệp! Hiện tại, các Luật liên quan đến quản lý đầu tư và xây dựng đã có hiệu lực thi hành song chưa có Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các Bộ, ngành Trung ương hướng dẫn thực hiện luật. Trong điều kiện đó các cấp, các ngành đã chủ động, linh hoạt (kể cả hướng dẫn tạm thời) để tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư theo nguyên tắc: Nghiêm túc tuân thủ những nội dung đã quy định rõ trong luật; những nội dung chưa rõ hoặc chưa thống nhất cách hiểu đã kịp thời xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương.

3. Về đề nghị cần phải có sự phối hợp giữa các ngành trong việc quy hoạch, phát triển công nghiếp sản xuất – Khai thác – Chế biến vật liệu xây dựng, trong đó có Gạch – Cát – Đa; công tác quản lý khai thác vật liệu xây dựng. Hiện tại trên địa bàn có tình trạng khai thác đá chui, giá bán vật liệu xây dựng cao gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư.

a) Đến thời điểm hiện tại, UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Điện Biên tại Quyết định số 1053/QĐ-UBNDNgày 31 tháng 8 năm 2010; phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Điện Biên giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tại Quyết định số 321/QĐ-UBND ngày 07/4/2014; phê duyệt bổ sung điểm mỏ vào trong Quy hoạch thăm dò, khai thác chế biến và sử dụng khoáng sản; Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Điện Biên giai đoạn 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tại Quyết định số 638/QĐ - UBND ngày 31/7/2015.

b) Việc hoạt động khoáng sản phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch khoáng sản, chỉ được tiến hành hoạt động khoáng sản khi được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định tại Điều 4 Luật khoáng sản năm 2010. Vì vậy, việc khai thác chui là những hành vi bị cấm quy định tại Khoản 3 Điều 8 Luật khoáng sản năm 2010. Hiện tại, Sở Tài nguyên và Môi trường chưa phát hiện tình trạng bảo kê cho việc khai thác cát, sỏi trái phép (chui). Để tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác, vận chuyển và tiêu thụ cát sỏi lòng sông, suối trên địa bàn tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành văn bản số 2166/UBND-TN ngày 19/6/2014 về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác, vận chuyển và tiêu thụ cát sỏi lòng sông, suối trên địa bàn tỉnh; trong đó, yêu cầu: từ 01/7/2014 các địa phương để xảy gia hoạt động khai thác cát sỏi trái phép, Chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố  phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh.

Qua công tác kiểm tra, hoạt động khai cát, sỏi trái phép tập trung chủ yếu  tại các huyện Điện Biên, Tuần Giáo, Mường Ảng, Mường nhé và thành phố Điện Biên Phủ; Việc thực hiện khai thác cát, sỏi lòng sông suối trên địa bàn tỉnh được thực hiện chủ yếu trong thời gian nông nhàn, thu gom cát, sỏi để bán tăng thêm thu nhập và cung cấp một phần vật liệu xây dựng cho địa phương khối lượng không lớn. Hàng năm, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp huyện đã thành lập các tổ kiểm tra tình hình quản lý và khai thác khoáng sản cát trên địa bàn tỉnh; UBND cấp huyện đã chỉ đạo UBND các xã đình chỉ, xử phạt và tạm giữ tang vật vi phạm, kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về khoáng sản; năm 2013, trên địa bàn tỉnh đã xử phạt 51 triệu đồng, đã thu được 40,2 triệu nộp ngân sách các xã và truy thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường với tổng số tiền là 256.512.000 đồng; Năm 2014, 2015, trên địa bàn tỉnh đã tiến hành kiểm tra, đã phát hiện và xử lý 74 trường hợp vi phạm về khai thác cát, sỏi trái phép và đã lập biên bản nhắc nhở yêu cầu chấm dứt việc khai thác trái phép; xử phạt vi phạm hành chính đối với một số đối tượng cố tình không chấp hành với tổng số tiền 251.500.000 đồng.

 Kết quả kiểm tra, xử lý cho thấy hầu hết đều chưa có giấy phép khai thác khoáng sản và các thủ tục đăng ký cam kết bảo vệ môi trường, phưong án cải tạo phục hồi bảo vệ môi trường, các chủ hộ khai thác cát, sỏi là hộ gia đình nông dân tự mua sắm thiết bị thô sơ, khai thác nhỏ lẻ dọc theo lòng sông suối, tập trung chủ yếu ở các bãi bồi dọc theo 02 bờ sông Nậm Rốm và ở một số điểm trên các nhánh suối nhỏ.

c) Theo quy định tại Điều 18 Luật Khoáng sản năm 2010, Ủy ban nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hoạt động khoáng sản trái phép; huy động và chỉ đạo phối hợp các lực lượng trên địa bàn để giải tỏa, ngăn chặn hoạt động khoáng sản trái phép; phối hợp với các cơ quan chức năng bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn.

Trường hợp tổ chức, công dân phát hiện tình trạng khai thác khoáng sản trái phép (khai thác chui) đề nghị thông báo ngay cho chính quyền địa phương nơi khai thác khoáng sản trái phép hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường để kịp thời xử lý theo quy định của pháp luật. 

4. Về tính lãi , tính tiền phạt đối với các khoản thuế doanh nghiệp nộp chậm, nhưng không trả lãi tiền chậm hoàn thuế GTGT cho doanh nghiêp

Theo quy định của Luật Quản lý thuế, cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự tính tự khai, tự nộp, đề cao trách nhiệm của người nộp thuế trong việc chủ động tính thuế, nộp thuế. Do đó, việc Doanh nghiệp chậm nộp tiền thuế theo quy định thì ngoài việc nộp đủ số tiền thuế chậm nộp Doanh nghiệp tự xác định số tiền chậm nộp để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho người nộp thuế về thời gian thực hiện chính sách pháp luật thuế, đặc biệt là thuế GTGT, Luật Quản lý thuế mới sửa đổi đã Giảm tần suất kê khai thuế giá trị gia tăng từ 12 lần/năm xuống còn 4 lần/năm đối với người nộp thuế quy mô vừa và nhỏ, tạo thuận lợi cho người nộp thuế (NNT) quy mô nhỏ và vừa (bao gồm doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ cá nhân kinh doanh) được kê khai thuế giá trị gia tăng (GTGT) 03 tháng/lần, các doanh nghiệp lớn kê khai thuế GTGT 01 tháng/lần.

Mặt khác, tại Điều 18 Mục 2 Chương 3 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng, quy định về đối tượng và trường hợp được hoàn thuế GTGT: “ Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trong quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo; trường hợp lũy kế sau ít nhất mười hai tháng tính từ tháng đầu tiên hoặc sau ít nhất bốn quý tính từ quý đầu tiên phát sinh số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết mà vẫn còn số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế.”

Do đó, việc Công ty tiếp tục thực hiện khấu trừ vào kỳ thuế tiếp theo là đúng quy định của Luật thuế. Trường hợp Doanh nghiệp đủ điều kiện và trường hợp được hoàn thuế theo quy định tại  Điều 19 Mục 2 Chương 3 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính  quy định thì Doanh nghiệp gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo mẫu đến cơ quan thuế để được giải quyết hoàn thuế.

Thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho người nộp thuế về thời gian giải quyết hoàn thuế, Luật Quản lý thuế mới sửa đổi đã rút ngắn thời hạn giải quyết đối với trường hợp “hoàn thuế trước, kiểm tra sau” từ 15 ngày làm việc xuống còn 06 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoàn thuế, đối với trường hợp “kiểm tra trước, hoàn thuế sau” từ 60 ngày xuống còn 40 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoàn thuế. Nội dung này được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 58 Thông tư 156/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính.

Căn cứ Điểm e, Khoản 3, Điều 58 Thông tư 156/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính Phủ, quy định: “Trường hợp giải quyết hồ sơ hoàn thuế chậm do lỗi của cơ quan thuế thì ngoài số tiền thuế được hoàn theo quy định, người nộp thuế còn được trả tiền lãi tính trên số thuế bị hoàn chậm cho thời gian chậm giải quyết hoàn thuế. Lãi suất tính tiền lãi do hoàn thuế chậm là lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố có hiệu lực tại thời điểm cơ quan thuế ra quyết định hoàn trả tiền thuế. Số ngày tính tiền lãi kể từ ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế theo quy định đến ngày ban hành Quyết định hoàn thuế/Quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu Ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngày nghỉ (thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết).

Số tiền lãi được ghi trong quyết định hoàn thuế và người nộp thuế được thanh toán tiền lãi cùng với số tiền hoàn thuế….”

Căn cứ vào quy định trên, trong quá trình giải quyết hồ sơ hoàn thuế nếu cơ quan thuế chậm giải quyết hoàn thuế theo quy định trên thì cơ quan thuế phải trả lãi cho thời gian chậm giải quyết hoàn thuế cho Doanh nghiệp. Như vậy, về pháp luật thuế đã đảm bảo công bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ của Doanh nghiệp khi thực hiện chính sách pháp luật thuế.

5. Về những kế hoạch để cải thiện vị trí xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay

Thực hiện mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, những năm qua tỉnh Điện Biên đã quan tâm đẩy mạnh cải cách hành chính nhất là trong giải quyết các thủ tục về đăng ký kinh doanh... ban hành nhiều cơ chế, chính sách cụ thể khuyến khích, thu hút đầu tư; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, chỉ số năng lực cạnh tranh  của tỉnh Điện Biên tăng, giảm thất thường. Việc giảm điểm năm 2014/năm 2013 ở các chỉ số thành phần (Chi phí không chính thức 2,81/ 5,96; Cạnh tranh bình đẳng: 4,17/ 6,70; Tính năng động: 3,14/ 5,37; Tiếp cận đất đai: 5,38/7,20) do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Trong những nguyên nhân chủ quan có nguyên nhân một số đơn vị chưa thực sự tích cực triển khai hoặc chưa bám sát các chỉ tiêu, cách thức cải thiện môi trường kinh doanh; nhiều nhiệm vụ, giải pháp chưa được triển khai theo yêu cầu, tác động của Nghị quyết 19/NQ-CP vào thực tế sản xuất và đời sống vẫn còn chậm; việc tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp còn có những hạn chế.

  Để tạo bước chuyển mạnh mẽ về môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh theo hướng thuận tiện, thông thoáng, minh bạch, thân thiện và hấp dẫn cho nhà đầu tư, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong năm 2015-2016 và những năm tiếp theo, phấn đấu đạt loại Khá trong bảng xếp hạng PCI; đồng thời đề huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư, phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra, phấn đấu xây dựng tỉnh Điện Biên phát triển toàn diện bền vững, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên ban hành Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Điện Biên tại Quyết định số 176/QĐ-UBND ngày 09/3/2015 và Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 2 năm 2015 – 2016 trên địa bàn tinh Điện Biên tại Quyết định số 548/QĐ-UBND ngày 03/7/2014 với 10 mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu sau:

Nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất phải triển khai thực hiện là, tiếp tục rà soát để đơn giản hóa thủ tục hành chính, chú trọng vào vào cải cách hành chính về thuế, hải quan, đầu tư, đất đai, xây dựng và các thủ tục hành chính, nhóm thủ tục hành chính cần ưu tiên đơn giản hóa thuộc thẩm quyền quyết định của UBND tỉnh; rà soát, đề suất bãi bỏ các giấy phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện không cần thiết, trọng tâm tập trung vào những vấn đề liên quan đến tài chính, thuế, thành lập doanh nghiệp, hỗ trợ sản xuất kinh doanh; xây dựng và công bố công khai các bộ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh, các sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh để các tổ chức, cá nhân biết thực hiện.

Tinh giản thủ tục về đầu tư theo Nghị quyết 43/NQ-CP ngày 06/6/2014 của Chính phủ, về  một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; các thủ tục về đất đai, xây dựng, môi trường, thuế,... phấn đấu rút ngắn 40 – 50% thời gian triển khai các thủ tục theo quy định.

Thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch số 5028/KH-UBND, ngày 31/12/2014 và các kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn, hành năm trên địa bàn tỉnh. Các cấp, các ngành xây dựng quy chế phối hợp trong việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, tổ chức đúng thời gian quy định, nâng cao mức độ hài lòng của người dân tổ chức đối với các cơ quan hành chính nhà nước.

Thứ hai, tăng cường hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội để thu hút các nhà đầu tư.

Thứ ba, tiếp tục rà soát, điều chỉnh bổ sung và công khai kịp thời các cơ chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH, kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm của tỉnh nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp, nhà đầu tư tiếp cận các thông tin để đề ra chiến lược, kế hoạch đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ tư, tập trung chỉ đạo và thực hiện quyết liệt các biện pháp hữu hiệu để nâng cao điểm số các chỉ số thành phần trong bảng xếp hạng PCI năm 2015-2016 và các năm tiếp theo. Đặc biệt tập trung vào các chỉ số giảm điểm nghiêm trọng như:

          - Chi phí không chính thức: 2,81 (Năm 2013 là 5,96)

          - Cạnh tranh bình đẳng: 4,17 (năm 2013 là 6,70)

          - Tính năng động: 3,14 (năm 2013 là 5,37)

          - Tiếp cận đất đai: 5,38 (năm 2013 là 7,20).

          Thứ năm, thường xuyên tiếp nhận các thông tin và trả lời các yêu cầu, thắc mắc, đề xuất kiến nghị của doanh nghiệp; tổ chức đối thoại, trao đổi và lắng nghe phản hồi, phản ánh từ cơ sở, doanh nghiệp để giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trên cơ sở đó tập trung chỉ đạo điều hành và hoàn thiện các cơ chế, chính sách của tỉnh.

Thứ sáu, tổ chức tốt việc đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu sử dụng lao động của thị trường, đào tạo lực lượng lao động có tay nghề chuyên môn cao; thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về việc làm và dạy nghề cho người lao động; thực hiện sự liên kết giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo nghề; mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo cho người lao động khu vực nông thôn. Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế-xã hội theo chức danh, vị trí làm việc đáp ứng yêu cầu của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành và thực thi công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Thứ bảy, nâng cao chất lượng công tác tham mưu của các cơ quan chuyên môn và tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc của lãnh đạo tỉnh để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong việc tạo môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh của tỉnh.

Thứ tám, tích cực triển khai công tác giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định; kiên quyết xử lý, thu hồi các dự án có sử dụng đất không hiệu quả, sai mục đích, chậm tiến độ theo quy định, các dự án ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, để tạo quỹ đất thu hút hoặc giao cho nhà đầu tư khác.

  Thứ chín, hoàn thiện các quy định về trình tự giải quyết các tranh chấp về đất đai, chế độ cho người lao động, quy định về chính sách cho người lao động nước ngoài, tranh chấp kiện tụng về kinh tế tại các cơ quan tư pháp.

Thứ mười, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đời sống.

Với tinh thần chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp, xin được gửi đến cộng đồng các doanh nghiệp, các nhà đầu tư Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Điện Biên và Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 2 năm 2015 – 2016 trên địa bàn tinh Điện Biên để giám sát các cấp, các ngành, các đơn vị thực hiện các nhiệm vụ trên, từng bước xây dựng nền công vụ hiệu quả, minh bạch, phục vụ nhân dân và xã hội.

V. Kiến nghị của Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng số 6 về hỗ trợ dự án ngoài hàng rào từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước đối với dự án khu du lịch sinh thái Him Lam; việc đầu tư xây dựng Bến xe khách tỉnh Điện Biên. Về việc xin thuê đất để thực hiện đầu tư khu Trung tâm thương mại giai đoạn II theo đúng quy hoạch chi tiết tổng thể mặt bằng Trung tâm thương mại thành phố Điện Biên Phủ được duyệt. Trước mắt, đề nghị các ngành liên quan giải phóng các tiểu thương đang kinh doanh phía ngoài Trung tâm gây mắt an toàn giao thông, ảnh hưởng đến mỹ quan và công tác phòng chống cháy, nổ Trung tâm Thương mại.

Trả lời :

1. Về hỗ trợ  ngoài hàng rào từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước đối với dự án khu du lịch sinh thái Him Lam: Theo Quyết định số 470/QĐ-UBND ngày 27/10/2005 của UBND Thành phố Điện Biên Phủ, về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết Khu du lịch hồ Huổi Phạ  và Quyết định số 719/QĐ-UBND ngày 27/7/2012 của UBND thành phố Điện Biên Phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch giao thông khu du lịch hồ Huổi Phạ, phường Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ thì các hạng mục ngoài hàng rào của Khu du lịch Him Lam bao gồm hai tuyến đường chính là:

+ Đường vào khu du lịch hồ Huổi Phạ (vừa là tuyến đường xuyên Á): Với tổng mức đầu tư là 29.330 triệu đồng. Công trình được đầu tư từ năm 2004 đến nay đã nghiệm thu khối lượng hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng vào ngày 30/12/2011. Dự án đã được bố trí đủ 100% vốn đầu tư.

+ Hạ tầng kỹ thuật khu du lịch Him Lam giai đoạn II - Thành phố Điện Biên Phủ: dự án được phê duyệt với tổng mức đầu tư 74.900 triệu đồng.

Như vậy, về cơ bản các dự án ngoài hàng rào của khu du lịch sinh thái Him Lam đã được hỗ trợ, đầu tư khá hoàn thiện.

2. Về Dự án Bến xe khách tỉnh Điện Biên:

Dự án đã được UBND tỉnh đồng ý về chủ trương cho Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng số 6 tỉnh Điện Biên triển khai xây dựng tại văn bản số 122/UBND-TH ngày 06 tháng 02 năm 2009. Tuy nhiên, đến nay Dự án vẫn chưa được triển khai thực hiện vì lý do nhà đầu tư chưa có mặt bằng. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan liên quan về đất đai, sớm giải phóng mặt bằng bàn giao cho nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án.

3. Về việc xin thuê đất để thực hiện đầu tư khu Trung tâm thương mại giai đoạn II theo đúng quy hoạch chi tiết tổng thể mặt bằng Trung tâm thương mại thành phố Điện Biên Phủ được duyệt. Trước mắt, đề nghị các ngành liên quan giải phóng các tiểu thương đang kinh doanh phía ngoài Trung tâm gây mắt an toàn giao thông, ảnh hưởng đến mỹ quan và công tác phòng chống cháy, nổ Trung tâm Thương mại.

Đề nghị của doanh nghiệp là hoàn toàn xác đáng, phù hợp với quy hoạch và định hướng phát triển của tỉnh cũng như ý kiến nhận xét của du khách trong và ngoài nước đã đến Điện Biên Phủ.

Theo điều chỉnh quy hoạch chi tiết Trung tâm thương mại - Hội chợ triển lãm thành phố Điện Biên Phủ, tỷ lệ 1/500 được phê duyệt tại Quyết định số 70/QĐ-UBND ngày 19/01/2009 của UBND thành phố Điện Biên Phủ, với tổng diện tích quy hoạch là 30.650 m2; Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng số 6 đã được UBND tỉnh Điện Biên cho thuê đất để đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại thành phố Điện Biên Phủ, với tổng diện tích là 12.368,7 m2.

Trường hợp Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng số 6 có nhu cầu tiếp tục đầu tư Trung tâm Thương mại theo quy hoạch chi tiết được duyệt, các cấp, các ngành và các đơn vị liên quan sẽ tạo điều kiện tối đa theo quy định của Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đề nghị Công ty lập báo cáo đề xuất đầu tư (trong đó đề xuất hình thức đầu tư) gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Điện Biên để lấy ý kiến tham gia thẩm định của các sở, ngành có liên quan, trình UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định.

VI. Kiến nghị của Công ty cổ phần ô tô về việc tháo gỡ khó khăn về cơ chế chính sách thuế và một số vấn đề liên quan đến việc triển khai dự án Bãi đỗ xe tĩnh thành phố Điện Biên Phủ. Về việc này, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã trao đổi, làm việc với Cục thuế tỉnh; Cục thuế tỉnh đã có văn bản số 2655/CT-TTHT ngày 06/11/2015, trả lời cụ thể ý kiến của Công ty cổ phần ô tô Điện Biên như sau:

Trả lời:

1. Về ý kiến vướng mắc chính sách thuế

Theo như nội dung đề nghị, tại Văn bản số 771/TTr-TC ngày 30 tháng 9 năm 2015 của  Công ty thì nội dung  vướng mắc, Công ty chưa nêu cụ thể vướng mắc chính sách thuế nào, nên Cục thuế không rõ vướng mắc, kiến nghị để giải đáp cho Công ty. Để được giải đáp cụ thể, đề nghị Công ty liên hệ với bộ phận giải đáp, hỗ trợ chính sách của Cục thuế để được tư vấn, hỗ trợ, giải đáp cụ thể những vướng mắc về chính sách, pháp luật thuế (Phòng Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế, số điện thoại: 0230.3825242 hoặc thư điện tử đại chỉ: email  ddbay.dbi@gdt.gov.vn).

2. Về thực hiện chính sách quản lý thu tiền cho thuê đất

Căn cứ vào hồ sơ thuê đất của Công ty thì Công ty Cổ phần vận tải ô tô Điện Biện được UBND tỉnh cho thuê đất tại Quyết định số 851/QĐ-UBND ngày 02/7/2008 với diện tích: 32.277,0m2 tại địa bàn phường Thanh Trường để xây dựng bãi đỗ xe tĩnh thành phố Điện Biên Phủ thời gian thuê đất từ tháng 7 năm 2008 đến tháng 7 năm 2058. 

Căn cứ Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/ 2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu; Thông tư số 16/2013/TT-BTC. ngày 08/02/2013 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu Ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu. Cục thuế tỉnh đã tham mưu với UBND tỉnh xem xét phê duyệt giảm 50% tiền thuê đất phải nộp của năm 2013 và năm 2014 đối với  Công ty đúng chế độ quy định (Quyết định số 2211/QĐ-CT ngày 21/10/2013 về việc giảm tiền thuê đất năm 2013 cho Công ty CP vận tải ôtô Điện Biên; Quyết định số 2090/QĐ-CT ngày 09/10/2014 về việc giảm tiền thuê đất cho Công ty CP vận tải ôtô Điện Biên).

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về căn cứ tính tiền thuê đất, thuê mặt nước thì:

“ 1. Người sử dụng đất được Nhà nước cho thuê đất phải nộp tiền thuê đất theo quy định của Luật đất đai và được xác định trên các căn cứ sau:

a)    Diện tích đất thuê.

b)    Thời hạn cho thuê đất.

c) Đơn giá thuê đất đối với trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm;…”

Căn cứ vào Điểm d Khoản 1 Điều 3 Mục 1 Chương II Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, quy định về xác định đơn giá thuê đất thì:

d) Hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất tính thu tiền thuê đất do Sở Tài chính chủ trì xác định theo từng khu vực, tuyến đường, vị trí tương ứng với từng mục đích sử dụng đất phù hợp với thị trường và điều kiện phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hàng năm sau khi xin ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Trường hợp tại một số vị trí đất thực hiện dự án trong cùng một khu vực, tuyến đường có hệ số sử dụng đất (mật độ xây dựng, chiều cao của công trình) khác với mức bình quân chung của khu vực, tuyến đường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hệ số điều chỉnh giá đất cao hơn hoặc thấp hơn mức bình quân chung để tính thu tiền thuê đất đối với các trường hợp này và quy định cụ thể trong Quyết định ban hành hệ số điều chỉnh giá đất của địa phương.”

Căn cứ vào các quy định nêu trên và nội dung kiến nghị của Công ty, các cấp, các ngành và các đơn vị liên quan xin ghi nhận kiến nghị của Công ty và báo cáo UBND tỉnh xem xét giải quyết. Trước mắt, trình UBND tỉnh cho phép Công ty Cổ phần vận tải ô tô Điện Biên rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch chi tiết theo hướng chỉnh Sân bay 15% so với đường băng hiện tại để áp dụng  giá thuê đất cho phù hợp.

VII. Kiến nghị của Công ty TNH Khách sạn Hà Nội - Điện Biên Phủ, về việc đề nghị xem xét việc miễn giảm tiền thuê đất năm 2015 ở mức giảm 50% như năm 2014.

Trả lời:

- Căn cứ Điểm d, Khoản 2, Mục I, Nghị quyết số 02/NQ-CP, ngày 07/01/2013 của Chính phủ, về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu quy định: "...d) giảm 50% tiển thuê đất năm 2013, năm 2014 đối với các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhà nước cho thuê đất mà số tiền thuê đất phải nộp theo quy định tại Nghị định 121/2010/NĐ-CP, ngày 30/12/2010 của Chính phủ, tăng quá 2 lần so với mức nộp năm 2010"

- Căn cứ Khoản 1, Điều 6 Thông tư 16/2013/TT-BTC ngày 08/02/2013 của Bộ Tài chính, hướng dẫn việc gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách nhà nước theo Nghị quyết số 02/NQ-CP, ngày 07/01/2013 của Chính phủ, về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, quy định đối tượng áp dụng giảm 50% tiền thuê đất thì: "Tổ chức kinh tế (bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp có thu, hợp tác xã), hộ gia đình, cá nhân được nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm từ trước ngày 31/12/2010, sử dụng đúng mục đích, trong năm 2011 thuộc diện phải điều chỉnh đơn giá thuê đất theo quy định tại Nghị định 121/2010/NĐ-CP, ngày 30/12/2010 của Chính phủ và số tiền thuê đất phát sinh năm 2013, năm 2014 tăng hơn 2 lần so với số tiền thuê đất phát sinh nưm 2010"

Căn cứ theo quy định trên thì chính sách giảm 50% tiền thuê đất để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu chỉ được áp dụng cho năm 2013 và 2014. Do vậy, Công ty kiến nghị xem xét giảm 50% tiền thuê đất phát sinh phải nộp của năm 2015 là không đúng quy định của chính sách về thu tiền cho thuê đất quy định hiện hành.

VIII. Kiến nghị của Công ty cổ phần Rừng Việt Tây Bắc:

Về việc tạo điều kiện cho Công ty được tiếp cận nguồn nguyên liệu trên địa bàn tỉnh để phục vụ cho sản xuất các loại gỗ ván dăm trong đó có nguồn nguyên liệu gỗ tại huyện Tuần Giáo và tại các khu vực phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang đầu tư cơ sở hạ tầng. Về quan tâm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hưởng đầy đủ những ưu đãi đầu tư theo Nghị định 210 của Chính phủ và các quy định hiện hành để giảm bớt những khó khăn cho các doanh nghiệp đã đầu tư, thu hút những doanh nghiệp có ý định đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Việc phân bổ kinh phí trồng rừng từ các nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước cho huyện Tuần Giáo năm 2015 chỉ được khoảng 7% kinh phí trồng cây phân tán. Cơ cấu cây trồng lâm nghiệp cần cân nhắc ưu tiên trồng keo tai tượng, không nên trồng mỡ. Về giải quyết thủ tục quyết toán trồng rừng từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước đã thực hiện để Công ty có thể thu mua được nguyên liệu, tiếp tục sản xuất (vì phải đóng cửa  nhà máy hơn 6 tháng nay).

          Trả lời:

1. Về việc tạo điều kiện cho Công ty được tiếp cận nguồn nguyên liệu trên địa bàn tỉnh để phục vụ cho sản xuất các loại gỗ ván dăm trong đó có nguồn nguyên liệu gỗ tại huyện Tuần Giáo và tại các khu vực phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang đầu tư cơ sở hạ tầng.

          Về chủ trương, Sở Nông nghiệp và PTNT rất quan tâm, ủng hộ và tạo mọi điều kiện cho công ty được tiếp cận, thu mua nguồn nguyên liệu trên địa bàn tỉnh, đặc biệt tại địa bàn các huyện theo đề xuất vùng nguyên liệu của công ty để làm nguyên liệu hoạt động cho nhà máy.

          Tuy nhiên, hiện nay đa phần diện tích rừng trồng trên địa bàn tỉnh được đầu tư từ nguồn vốn thuộc chương trình 327, dự án 661 chưa thực hiện xong việc quyết toán dự án hoàn thành theo quy định (trong đó có huyện Tuần Giáo). Do đó, chưa có đủ cơ sở để chủ rừng khai thác bán cho doanh nghiệp (đối với diện tích rừng trồng đủ điều kiện khai thác). Để đẩy nhanh việc quyết toán các dự án hoàn thành, Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với các Ngành: Tài chính, Kho bạc thường xuyên có văn bản đôn đốc, yêu cầu và hướng dẫn các chủ đầu tư thực hiện quyết toán xong dự án hoàn thành. Ngày 17/9/2015, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định số 869/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ công tác liên ngành hỗ trợ các huyện, thị xã, thành phố, các đơn vị chủ đầu tư thực hiện quyết toán dự án hoàn thành chương trình 327, dự án 661, với nhiệm vụ đôn đốc, hướng dẫn, hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện xong quyết toán dự án hoàn thành. Ngoài việc hỗ trợ các chủ đầu tư hoàn thiện thủ tục, chứng từ quyết toán, Tổ còn hỗ trợ rà soát, hướng dẫn chủ đầu tư đánh giá diện tích rừng hiện còn của từng dự án so với diện tích đầu tư.

          Theo Kế hoạch số 388/KH-UBND ngày 20/02/2013 của UBND tỉnh Điện Biên, hầu hết diện tích có rừng đã được giao cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức (chủ rừng). Do vậy, theo luật Bảo vệ và phát triển rừng, chủ rừng quyết định đối với phần hưởng lợi từ diện tích rừng được giao (trong đó có rừng trồng).

          Do đó, để có nguồn nguyên liệu cho chế biến, ngoài sự ủng hộ, quan tâm của các ban, ngành, chính quyền địa phương trong tỉnh, Công ty Cổ phần Rừng Việt Tây Bắc cần chủ động xây dựng các đại lý, các điểm thu mua tại những nơi tập trung rừng trồng (những diện tích đã thực hiện quyết toán xong, đủ tuổi khai thác). Đối với diện tích rừng trồng do người dân tự đầu tư, cây trồng phân tán, cây trong vườn nhà, công ty cần chủ động liên hệ với các hộ gia đình có nhu cầu bán gỗ, thống nhất giá cả, phương án thu mua.

2. Đối với việc được khai thác tại các khu vực phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang đầu tư cơ sở hạ tầng.

Sở Nông nghiệp và PTNT ủng hộ kiến nghị của công ty. Tuy nhiên, để tiếp cận các dự án, công ty cần chủ động làm việc với Chi cục Lâm nghiệp (thuộc Sở Nông nghiệp bà PTNT) về các dự án có chuyển đổi mục đích sử dụng rừng (đối với diện tích chưa giao, do UBND xã quản lý), có văn bản đề nghị với UBND tỉnh và được UBND tỉnh cho phép. Sau khi được UBND tỉnh cho phép, đề nghị công ty thực hiện các thủ tục khai thác gỗ theo quy định tại Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT, ngày 20/5/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng dẫn khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ.

          Những dự án có diện tích rừng chuyển đổi đã có chủ rừng, công ty cần chủ động liên hệ với các chủ rừng để thu mua gỗ sau khi khai thác hoặc mua gỗ đứng và tổ chức khai thác sau khi chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục về trồng rừng thay thế, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng.

          3. Về quan tâm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hưởng đầy đủ những ưu đãi đầu tư theo Nghị định 210 của Chính phủ và các quy định hiện hành để giảm bớt những khó khăn cho các doanh nghiệp đã đầu tư, thu hút những doanh nghiệp có ý định đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh.

  Nghị định số 210/2013/NĐ-CP của Chính phủ ra đời đã tạo ra động lực khuyến khích đối với các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, trong đó có tỉnh Điện Biên. Để triển khai chính sách này, UBND tỉnh Điện Biên đã chỉ đạo các Sở, ngành có liên quan và UBND các huyện phổ biến, tuyên truyền chính sách này đến các doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh để thực hiện.

Về chủ trương, Sở Nông nghiệp và PTNT, các ngành của tỉnh luôn quan tâm, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong diện đối tượng được hưởng hỗ trợ theo Nghị định này được nhận hỗ trợ theo quy định; thường xuyên phối hợp, hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ, thủ tục theo quy định tại Nghị định và các Thông tư hướng dẫn của các Bộ liên quan để doanh nghiệp sớm được nhận hỗ trợ. Đồng thời tham mưu giúp UBND tỉnh kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cho phép điều chuyển nguồn vốn Chương trình bảo vệ phát triển rừng bền vững từ 2011-2015 sang nguồn vốn hỗ trợ đầu tư năm 2015 theo Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ, làm cơ sở để tỉnh phê duyệt hỗ trợ đầu tư cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

          Để thực hiện tốt nội dung này, đề nghị doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các Thông tư số 05/2014/TT-BKHĐT ngày 30/9/2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn; Thông tư số 30/2015/TT-BTC ngày 09/3/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, thanh toán và quyết toán các khoản hỗ trợ doanh nghiệp theo Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ, để xem xét đề xuất và lập hồ sơ đề nghị hỗ trợ đầu tư

          4. Việc phân bổ kinh phí trồng rừng từ các nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước cho huyện Tuần Giáo năm 2015 chỉ được khoảng 7% kinh phí trồng cây phân tán.        

          Trong Tờ trình gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu giúp UBND tỉnh Quyết định phân bổ vốn chương trình bảo vệ rừng năm 2015, trong đó có hạng mục trồng rừng, trồng cây phân tán, Sở Nông nghiệp và PTNT đã có quan điểm tham mưu ưu tiên bố trí tập trung trồng rừng, trồng cây phân tán cho huyện Tuần Giáo, Điện Biên, là vùng nguyên liệu chủ yếu của 2 nhầ máy chế biến. Theo Quyết định số 304/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của UBND tỉnh Điện Biên về việc phân bổ chi tiết kế hoạch vốn chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững năm 2015 tỉnh Điện Biên, số lượng cây phân tán phân bổ cho huyện Tuần Giáo là 350.000 cây trên tổng số 1.100.000 cây, chiếm 31,8%.  

          Căn cứ kết quả triển khai thực hiện dự án trồng cây phân tán năm 2015, tổng số cây cấp cho huyện Tuần Giáo là 315.750 cây (chiếm 29,1%) tổng số cây cấp toàn tỉnh, tương ứng kinh phí là 582.352.641 đồng (chiếm 29,2%).

          Giai đoạn 2016-2020, Sở Nông nghiệp và PTNT tiếp tục triển khai dự án trồng cây phân tán, vốn thực hiện mỗi năm khoảng 2,0 tỷ đồng. Khi đó, Sở tiếp tục ưu tiên bố trí khối lượng cây phân tán cho các huyện có nhà máy chế biến gỗ, trong đó có Tuần Giáo để tạo động lực phát triển nguyên liệu cho nhà máy. 

5. Cơ cấu cây trồng lâm nghiệp cần cân nhắc ưu tiên trồng Keo tai tượng, không nên trồng mỡ?

          Theo cơ cấu loài cây trồng lâm nghiệp Bộ Nông nghiệp và PTNT được ban hành tại Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 về Ban hành danh mục các loài cây chủ lực cho trồng rừng sản xuất và danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng theo các vùng sinh thái lâm nghiệp; trong đó, cây Mỡ và cây Keo tai tượng đều có trong danh mục trồng rừng của vùng Tây Bắc. Ngoài ra, qua thực tế trồng rừng trên địa bàn tỉnh (trong đó có huyện Tuần Giáo) những năm qua cho thấy, cây Mỡ sinh trưởng tương đối phù hợp. Việc lựa chọn trồng Mỡ hay Keo tai tượng phụ thuộc vào điều kiện lập địa nơi trồng, hiệu quả kinh tế loài cây trồng, mong muốn của người dân và đầu ra cho sản phẩm. Do đó, đối với những diện tích đất phù hợp cho trồng cây Keo tai tượng, Sở Nông nghiệp và PTNT sẽ phối hợp với UBND các huyện vùng nguyên liệu của nhà máy tuyên truyền, hướng dẫn các hộ dân trồng Keo tai tượng (là cây phát triển nhanh) để sớm cho thu hoạch, tạo nguyên liệu cho nhà máy.

   6. Về giải quyết thủ tục quyết toán trồng rừng từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước đã thực hiện để Công ty có thể thu mua được nguyên liệu, tiếp tục sản xuất. Vì phải đóng cửa  nhà máy hơn 6 tháng nay.

Theo ý kiến của cơ quan Tài chính: Các Dự án trồng rừng từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước, phải được thực hiện quyết toán theo đúng qui định tại Thông tư 19/2011/TT-BTC ngày 14/2/2011 của Bộ Tài chính về quy định dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn ngân sách; Thông tư 85/2014 ngày 30/6/2014 của Bộ Tài chính về hướng dẫn quản lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triền rừng. Như vậy, mọi thủ tục đã được qui định rõ tại 2 Thông tư hướng dẫn trên.

Cụ thể trên địa bàn có hai dự án liên quan đến việc thu mua nguyên liệu của Công ty là Dự án Quy hoạch phát triển rừng phòng hộ Sông Đà huyện Tủa Chùa đã có Quyết định phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành. Dự án Quy hoạch phát triển rừng phòng hộ Sông Đà Nậm khoai - Nậm mức - Nậm cô huyện Tuần Giáo đơn vị chưa gửi hồ sơ báo cáo quyết toán đến Sở Tài chính. Như vậy Sở Tài chính chưa thực hiện thẩm tra quyết toán.

IX. Kiến nghị của Công ty TNHH Xây dựng cấp nước Điện Biên xem xét, có chính sách trợ giá, cấp bù cho khoản chênh lệch do giá bán nước thấp hơn giá thành sản xuất thì đơn vị phải được cấp bù phần chênh lệch.

Trả lời:

          Thời gian qua, Công ty TNHH Xây dựng cấp nước Điện Biên đã rất nỗ lực cố gắng nhằm hạ giá thành sản xuất và đã đạt được kết quả bước đầu. Song theo kiến nghị, Công ty vẫn còn nhiều khó khăn; các cấp, các ngành xin được chia xẻ với những khó khăn của Công ty đồng thời sẽ tiếp tục quan tâm tào những điều kiện thuận lợi nhất cho Công ty. Tuy nhiên, giá nước sạch hàng năm đã được Liên ngành Tài chính - Xây dựng tính đủ các chi phí tiền lương, nhiên vật liệu, công cụ dụng cụ, trích khấu hao TSCĐ theo quy định của nhà nước, giá bán được Liên ngành xác định bằng giá thành sản xuất. Giá UBND tỉnh ban hành giá bán bằng giá thành sản xuất (đã tính lãi định mức theo qui định). Với kế hoạch như vậy đơn vị sẽ không bị lỗ nếu đơn vị thực hiện chi tiết kiệm hiệu quả.

Khi mức lương cơ sở và các khoản đóng góp cũng như các khoản chi phí khả biến thay đổi theo qui định của Nhà nước, thời điểm đó giá được duyệt không còn phù hợp. Công ty có trách nhiệm trình các ngành chức năng xem xét tính toán lại để thay đổi đơn giá theo qui định. Để giá nước phù hợp với tình hình thực tế, đề nghị Công ty Cấp nước Điện Biên xây dựng bộ giá nước sạch gửi đến ngành chức năng thẩm định trình UBND tỉnh Ban hành biểu giá nước sạch đến năm 2020.

Để tránh tình trạng bị lỗ, rất mong Công ty chủ động nghiên cứu áp dụng các biện pháp quản lý tài chính thật hiệu quả như: tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm, tinh giảm biên chế nâng cao chất lượng lao động, tăng cường kiểm tra hệ thông cấp nước thường xuyên có biện pháp khắc phục tình trạng thất thoát nước quá quy định như hiện nay. 

X. Kiến nghị của công ty cổ phần cao su Điện Biên:

          Về hướng dẫn, tạo điều kiện cho Công ty được hưởng các chính sách hỗ trợ phát triển cao su theo Quyết định số 16/2011/QĐ-UBND ngày 30/5/2011 của UBND tỉnh, đồng thời được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định tại Nghị định 210/2014/NĐ-CP, ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Về chính sách hỗ trợ giá mủ cho người dân góp đất khi giá mủ cao su xuống thấp; có chính sách hỗ trợ nguồn vốn bằng việc bố trí thực hiện lồng ghép các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới tại địa phương trong vùng phát triển cao su.

Trả lời:

1. Các chính sách theo Quyết định số 16/2011/QĐ-UBND, ngày 30 tháng 5 năm 2011 của UBND tỉnh: Về hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi mục đích diện tích đất sang trồng cao su, các địa phương đang triển khai theo đúng nội dung của chính sách và kinh phí của UBND tỉnh cấp. Đối với hỗ trợ ngoài hàng rào, UBND tỉnh đã giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì để làm việc với Công ty cổ phần cao su Điện Biên, Mường Nhé, UBND các huyện, thị và các ngành.

- Về Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn có các nội dung ưu đãi về đất đai, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường, áp dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ đầu tư cơ sở chế tạo, bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản và các nội dung hỗ trợ khác, đồng thời cũng quy định có các tiêu chuẩn, điều kiện để các nhà đầu tư được hưởng chính sách trên. Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã ban hành Thông tư 05/2014/TT-BKHĐT ngày 30/9/2014 Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trong đó quy định chi tiết hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện hỗ trợ đầu tư; Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 30/2015/TT-BTC ngày 9/3/2015 Hướng dẫn việc lập dự toán, thanh toán, quyết toán các khoản hỗ trợ doanh nghiệp theo Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ. Do đó, Công ty cao su cần nghiên cứu các tiêu chuẩn, điều kiện, các nội dung hỗ trợ phù hợp với công ty, đồng thời hoàn thiện đầy đủ hồ sơ theo quy định tại Thông tư 05/2014/TT-BKHĐT ngày 30/9/2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2012 của Chính phủ, Thông tư số 30/2015/TT-BTC ngày 9/3/2015 của Bộ Tài chính trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt. Nếu có khó khăn vướng mắc liên hệ với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và PTNT đề được hướng dẫn, giải đáp.

2. Về chính sách hỗ trợ giá mủ cho người dân góp đất khi giá mủ cao su xuống thấp:

 Trước hết xin được chia xẻ với những trăn trở của Công ty. Tuy nhiên, nếu hỗ trợ cho người dân góp đất trồng cây cao su thì đây là một chính sách riêng nằm trong dự án. Còn việc hỗ trợ giá mủ cây cao su xuống thấp phải được cấp có thẩm quyền cho phép về kinh phí cũng như về chính sách. Hiện tại Địa phương không có nguồn và mặt hàng này không nằm trong mặt hàng thiết yếu nên việc trợ giá là không có. Việc bình ổn giá thuộc thẩm quyền của Tổng Công ty Cao su.

        3. Có chính sách hỗ trợ nguồn vốn bằng việc bố trí thực hiện lồng ghép các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới tại địa phương trong vùng phát triển cao su:

Cùng với việc phát triển của cả nước việc đầu tư cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới tại địa phương thì Điện Biên đã và đang thực hiện việc đó và có kế hoạch đầu tư qua các giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh.

Đối với năm 2015, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1043/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 Về việc điều chỉnh bổ sung danh mục dự án, lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự kiến khởi công mới giai đoạn 2016-2020 thuộc vốn tín dụng ưu đãi, vốn chương trình 30a, vốn 135, vốn xây dựng nông thôn mới thuộc kế hoạch đầu tư trung hạn 5 năm 2016-2020 – tỉnh Điện Biên. Theo đó các dự án công trình sẽ được trung ương xem xét và bố trí nguồn thực hiện, trên cơ sở đó tỉnh thông báo và quyết định phân bổ chi tiết cho các huyện thực hiện trong đó có các huyện, thành phố trồng cây cao su, đề nghị Công ty Cổ phần cao su xem chi tiết các nội dung liên quan đến đầu tư hạ tầng, trên địa bàn các huyện trồng cao su để biết và trao đổi với các hộ dân trồng cao su.

4. Về chính sách an sinh xã hội:

Hiện nay tỉnh đã và đang thực hiện đầy đủ các chính sách an sinh xã hội trong đó có các đối tượng là các hộ dân trên địa bàn vùng qui hoạch trồng cây cao su như:  Thực hiện chính sách hỗ trợ người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/3/2011; Quyết định số 56/2013/QĐ-TTg ngày 07/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ;  Thực hiện khám chữa bệnh cho người nghèo và người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, trẻ em dưới 6 tuổi, học sinh sinh, hộ gia đình cận nghèo theo Qui định của Luật Bảo hiểm Y tế;  Thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí trên địa bàn;  Thực hiện chính sách hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số học tại các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp tại địa phương theo Thông tư số 35/2014/TTLT-BGDĐT-BTC ngày 15 tháng 10 năm 2014 của liên Bộ: Giáo dục - Đào tạo và Tài chính; Chính sách về giáo dục đối với người khuyết tật theo qui định tại Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BTBLĐXH-BTC ngày 13/12/2013 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - Bộ Tài chính; Các chính sách hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em 3, 4, 5 tuổi; hỗ trợ học sinh dân tộc nội trú, bán trú; hỗ trợ chi phí học tập và cấp bù miễn giảm học phí; chính sách phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người; Thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho các các đối tượng theo Nghị định 67, 13; Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật;  Hỗ trợ hộ nghèo tiền điện, hỗ trợ nghèo khó khăn theo Quyết định 102 của Thủ tướng Chính phủ.

Trên đây là các ý kiến trả lời của các Sở, ngành theo phân công tại công văn số 3626/UBND-GT ngày 16/10/2015 của UBND tỉnh Điện Biên, Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp báo cáo UBND tỉnh và gửi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Hy vọng tiếp tục nhận được những ý kiến đề xuất, kiến nghị giải quyết những khó khăn vướng mắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của cộng đồng các doanh nghiệp, các nhà đầu tư./.

 

Thông tin khác
Sử dụng hệ thống Hệ thống thông tin quốc gia về ĐTNN để tạo mã số dự án và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước (05-11-2015)
Hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 2014 (22-10-2015)
Thông tin cần biết
Lịch truyền hình
Thời tiết
Giá vàng
Tỷ giá ngoại tệ
Thị trường chứng khoán
Liên kết website
Trang chủ      Giới thiệu      Tin tức & Sự kiện      Thủ tục hành chính      Văn bản - Tài liệu      Thư viện ảnh      Video      Liên hệ